Café cuối tuần

Thứ 6 ngày 13 tháng 02 năm 2026Lượt xem: 6606

Ca bệnh chiều cuối năm - 2025.

Cuối năm tất bật bộn bề công việc nhưng vẫn có niềm vui nhỏ khi công việc được hoàn thành tại - Khoa Lão khoa - Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp.

Ca bệnh chiều cuối năm. 

Bệnh nhân nữ, 72 tuổi, vào viện vì đau đầu mức độ nhẹ, âm ỉ, ý thức tỉnh, không kèm yếu liệt thần kinh sọ cũng như vận động tay chân.

1. Tiền sử tim mạch – mạch máu rất nặng nề:

- Đặt 03 stent mạch vành cách đây 16 năm. 

- Phẫu thuật bắc cầu động mạch vành (CABG) cách đây 10 năm.

- Hẹp động mạch cảnh hai bên, đã bóc tách nội mạc động mạch cảnh trái 10 năm.

- Điều trị duy trì nhiều năm: Clopidogrel (Plavix) 75 mg/ngày + Rosuvastatin (Crestor) 20 mg/ngày.

- Tăng huyết áp, rối loạn lipid máu.

2. Tại Khoa Lão khoa, người bệnh được tiếp cận theo nguyên tắc:

- Điều trị bệnh lý chính và bệnh lý kèm theo khi vào viện.

- Kiểm soát chặt các yếu tố nguy cơ gây bệnh cho người bệnh. Cụ thể là các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến mạch máu: huyết áp, lipid, đường máu.

- Tìm nguyên nhân gây bệnh cho bệnh nhân.

- Tư vấn và dự phòng bệnh tật cho người bệnh và gia đình.

3. Thăm khám lâm sàng tại Khoa Lão khoa:

- Thăm khám: cơ bản không thấy bất thường.

- Xét nghiệm cần làm:

   + Lipid máu, đường máu, HbA1c.

   + Siêu âm tim, điện tim.

   + Siêu âm Doppler mạch cảnh, …

  + Chụp Cộng hưởng từ mạch máu não (MRI), kết quả ghi nhận: tắc mạn hoàn toàn động mạch cảnh trong phải, hẹp động mạch não giữa phải, có tuần hoàn bàng hệ tốt, dòng chảy bù trừ từ hệ cảnh trong trái (bên đã can thiệp mạch 10 năm trước).

4. Lập luận chẩn đoán:

Vấn đề đặt ra: Vì sao vẫn tiến triển tắc mạch dù bệnh nhân dùng thuốc đều đặn trong thời gian dài?

Nếu người bệnh: 

- Tuân thủ tốt.

- Dùng đúng liều.

- Kiểm soát lipid chấp nhận được.

- Tích cực tập luyện thể dục, lối sống lành mạnh,...

- Vẫn được thăm khám bởi bác sĩ chuyên khoa!?

Vậy mà vẫn xuất hiện tổn thương huyết khối – xơ vữa tiến triển, cần nghĩ đến: đánh giá lại hiệu quả của việc dùng thuốc?

5. Xét nghiệm cần chỉ định

Khảo sát đa hình gen CYP2C19 liên quan chuyển hóa Clopidogrel?

Kết quả trả về: Người bệnh có kiểu gen: *1/*2, là kiểu hình: chuyển hóa trung gian.

Ý nghĩa lâm sàng: 

- Khả năng tạo chất chuyển hóa hoạt tính giảm.

- Hiệu quả chống kết tập tiểu cầu kém.

- Nguy cơ biến cố huyết khối, đột quỵ, tắc stent cao hơn so với người chuyển hóa bình thường.

Như vậy, diễn tiến tắc mạch không phải do thất bại điều trị, mà do đặc điểm di truyền ảnh hưởng hiệu quả thuốc.

6. Điều chỉnh điều trị

Trong trường hợp này, nên chuyển sang thuốc không phụ thuộc CYP2C19.

Lựa chọn phù hợp: Ticagrelor.

Ưu điểm:

- Tác dụng trực tiếp, không cần chuyển hóa qua CYP2C19.

- Ức chế tiểu cầu mạnh và ổn định hơn.

- Được khuyến cáo ở bệnh nhân có alen mất chức năng.

Song song vẫn cần:

- Kiểm soát các yếu tố nguy cơ kèm theo.

- Tái khám định kỳ chuyên khoa.

Một số nghiên cứu liên quan đến Alen CYP2C19.

1. Nghiên cứu của Nguyễn Phú Vũ và cộng sự (2019) khảo sát 100 người Kinh cho thấy tần suất alen: *1 = 76%, *2 = 20.5%, *3 = 2.5%, *17 = 1%. Điều này có nghĩa là alen mất chức năng (*2, *3) khá phổ biến ở người Việt: khoảng 20% allele *2 và ~2–3% allele *3.

Hệ quả: tỉ lệ người mang 1 alen LOF (heterozygote, tức intermediate metabolizer) và mang 2 alen LOF (homozygote, poor metabolizer) trong dân số Việt có ý nghĩa lâm sàng (IM + PM không hiếm), do đó khả năng phản ứng kém với clopidogrel không phải hiếm ở Việt Nam.

Áp dụng cho lâm sàng: khi tần suất *2 gần 20% thì tỉ lệ người có kiểu hình chuyển hóa không bình thường — IM hoặc PM — là đáng kể; nhìn chung ở người châu Á tần suất IM/PM cao hơn so với người da trắng.

2. Các nghiên cứu ở bệnh nhân động mạch vành/PCI tại Việt Nam ghi nhận mối liên quan giữa kiểu hình CYP2C19 (đặc biệt poor metabolizer) với tăng nguy cơ tái lòng mạch, MACEs khi dùng clopidogrel; ví dụ các báo cáo gần đây (VN) mô tả PM/IM liên quan tới tăng nguy cơ biến cố tim mạch sau đặt stent.

3. Nghiên cứu CHANCE (Wang và cs., Lancet/JAMA series 2016): trong thử nghiệm CHANCE (Trung Quốc, bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não nhẹ/TIA), bệnh nhân không mang allele mất chức năng (non-carriers) được lợi rõ rệt khi dùng aspirin + clopidogrel so với aspirin đơn độc; **nhưng những người mang ≥1 allele LOF (2/3) không hưởng lợi tương tự. Kết luận: ở dân số Đông Á (CHANCE) genotype ảnh hưởng tới hiệu quả phòng tái đột quỵ khi sử dụng clopidogrel. 

4. Nghiên cứu POINT (Meschia et al., 2020): là phân tích tương tự trên dân số đa chủng (châu Âu/Bắc Mỹ) trong thử nghiệm POINT — không thấy tương tác có ý nghĩa thống kê giữa trạng thái CYP2C19 LOF và lợi ích của clopidogrel/aspirin. Nghĩa là kết quả của CHANCE không được POINT tái xác nhận ở quần thể không phải Đông Á. 

5. Các tổng hợp gần đây cho thấy có bằng chứng vừa phải đến mạnh về mối liên quan giữa các allele LOF và kết cục thiếu máu cục bộ (nhất là trong các quần thể Đông Á hoặc các trường hợp ICAD) — nhưng hướng và cường độ hiệu ứng khác nhau giữa các nghiên cứu; nhiều tác giả kết luận rằng genotype có thể làm thay đổi lợi ích của clopidogrel trong phòng ngừa đột quỵ tái phát, đặc biệt ở những bệnh nhân có nguy cơ cao / tổn thương mạch máu nội sọ. 

6. Hướng dẫn CPIC (Clinical Pharmacogenetics Implementation Consortium, 2022): khuyến cáo dịch chuyển khỏi clopidogrel (sử dụng ticagrelor hoặc prasugrel khi phù hợp) cho poor metabolizers (PM) và tăng cường khuyến nghị cho intermediate metabolizers (IM) trong nhiều bối cảnh tim mạch; CPIC cũng cập nhật rằng genotype-guided therapy có thể hữu ích và có bằng chứng hỗ trợ lâm sàng.

ktk@vn